Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, nông nghiệp Việt Nam vẫn giữ vững tốc độ tăng trưởng sản xuất xấp xỉ 2,9-3%, tăng trưởng xuất khẩu 21,8%, xuất siêu tăng 96,5%.

viet nam tang xuat khau gao
(Ảnh minh họa: tiengiang.gov.vn)

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quý 1/2024 cho biết ngành nông nghiệp vẫn đạt tăng trưởng khá; năng suất, sản lượng nhiều sản phẩm chủ lực tăng, đảm bảo đủ nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu trong nước.

Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản trong quý 1 của năm 2024 ước đạt 2,9 – 3% so với cùng kỳ năm 2023 (trong đó trồng trọt tăng 2,02%; chăn nuôi tăng 4,34%, thủy sản tăng 3,46%; lâm nghiệp tăng 4,11%).

Xuất khẩu nông lâm, thủy sản tăng 21,8%

Trong tháng 3/2024, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 4,85 tỷ USD, tăng 6% so với tháng 3/2023. Trong đó: nông sản chính đạt 2,75 tỷ USD (tăng 31,1% so với tháng 3/2023); lâm sản chính đạt 1,22 tỷ USD (giảm 0,3%), thủy sản 653 triệu USD (giảm 14,6%), chăn nuôi đạt 43,6 triệu USD (tăng 8,3%), đầu vào sản xuất đạt 173 triệu USD (tăng 0,2%).

Tính chung 3 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông lâm thủy sản đạt 13,53 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2023.

Tính đến hết tháng 3/2024, đã có 4 mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD: Gỗ 2,32 tỷ USD (tăng 26,8%); Rau quả 1,23 tỷ USD (tăng 25,8%); Gạo 1,37 tỷ USD (tăng 40% với lượng 2,07 triệu tấn, tăng 12%); Cà phê 1,9 tỷ USD (tăng 54,2% với lượng 799 nghìn tấn, tăng 44,4%).

Trong 3 tháng đầu năm 2024, giá xuất khẩu bình quân của một số nông sản tăng so với cùng năm trước, gồm: gạo  đạt 661 USD/tấn, tăng 5%; cà phê đạt 2.373 USD/tấn, tăng 6,8%; cao su đạt 1.462 USD/tấn, tăng 5,1%; hạt tiêu đạt 4.153 USD/tấn, tăng 35,6%.

Ngược lại, một số mặt hàng suy giảm về giá xuất khẩu là hạt điều đạt 5.329 USD/tấn, giảm 8,6%; chè đạt 1.616 USD/tấn, giảm 2,2%; phân bón đạt 412 USD/tấn, giảm 9,1%…

Cà phê, gạo, rau quả đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội

Cà phê đã trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhất trong quý đầu năm nay. Trong 3 tháng đầu năm 2024, Việt Nam xuất khẩu 799 nghìn tấn cà phê, thu về 1,9 tỷ USD; tăng 44,45 về lượng và tăng 54,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu cà phê lập kỷ lục lịch sử khi gần cán mốc 2 tỷ USD chỉ sau 3 tháng.

Đáng chú ý, giá cà phê xuất khẩu tăng mạnh, bình quân 3 tháng đạt 2.373 USD/tấn. Về chủng loại, Việt Nam tăng xuất khẩu cà phê Robusta và Arabica, nhưng giảm xuất khẩu cà phê Excelsa và chế biến. Về thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Robusta sang nhiều thị trường, như: Ý, Tây Ban Nha, Nga, Indonesia, Bỉ, Trung Quốc, Philippines…

Xuất khẩu gạo cũng tăng trưởng ấn tượng, với lượng xuất 2,07 triệu tấn và kim ngạch 1,37 tỷ USD; tăng 12% về lượng và tăng 40% về kim ngạch so với 3 tháng đầu năm 2023. Việt Nam tiếp tục là một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, chiếm khoảng 15% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu, bên cạnh Ấn Độ và Thái Lan.

Thị trường gạo thế giới đang tiếp tục chịu tác động bởi nhiều yếu tố như lệnh cấm xuất khẩu gạo tại một số quốc gia. Đáng kể là Nga tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận ngũ cốc Biển Đen; thời tiết không thuận lợi gây ảnh hưởng tiêu cực tới sản lượng lương thực tại nhiều nước… gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu gạo của các quốc gia. Trong khi đó, lệnh cấm xuất khẩu gạo của Ấn Độ, việc Trung Quốc và Indonesia gia tăng nhập khẩu gạo vẫn đang tạo nhiều cơ hội hơn cho xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Philippines là thị trường tiêu thụ lớn nhất của ngành hàng gạo Việt Nam, Hiện gạo Việt Nam đang chiếm tới 85% tổng lượng gạo nhập khẩu của Philippines.

Indonesia là quốc gia nhập khẩu gạo lớn thứ 2 của Việt Nam. Hiện Indonesia đang trải qua 9 tháng thâm hụt gạo liên tiếp do sản xuất trong nước thiếu hụt so với nhu cầu. Giá bán gạo lẻ tại thị trường đối với gạo phẩm cấp cao đang lên tới 1,16 USD/kg, vượt giá trần Chính phủ ấn định là 0,9 USD/kg.

Trước tình hình này, các chuyên giá khuyến cáo các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam cần theo dõi sát thông tin thị trường, tận dụng tranh thủ cơ hội xuất khẩu gạo sang các thị trường Philippines và Indonesia.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng cần đa dạng các mặt hàng gạo xuất khẩu, không chỉ quá tập trung vào các sản phẩm gạo có chất lượng cao phục vụ cho người có thu nhập cao, mà còn cần khai thác tiềm năng của các loại gạo chất lượng trung bình để phục vụ cho số lượng lớn người dân thu nhập trung bình và thấp.

Trung Quốc, Mỹ đứng đầu về nhập khẩu nông lâm thủy sản Việt nam

Về thị trường: Xuất khẩu sang Châu Á đạt 6,27 tỷ USD (tăng 16,6%); Châu Mỹ 2,96 tỷ USD (tăng 27,2%); Châu Âu 1,85 tỷ USD (tăng 34,8%); Châu Đại Dương 188 triệu USD (tăng 22,9%) và Châu Phi 192 triệu USD (tăng 21,6%).

Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Trong đó, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 20,2%, tăng 18,3%; Hoa Kỳ chiếm 19,9%, tăng 28,3% và Nhật Bản chiếm 7%, tăng 4,6%.

Với những tín hiệu tích cực của thị trường, Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn dự báo, năm 2024 ngành hàng rau quả tiếp tục đón nhận những kỷ lục mới 6-6,5 tỷ USD; dự kiến tăng trưởng ở mức 15-20% so với năm 2023.

Trung Quốc sẽ tiếp tục là thị trường tiềm năng cho mặt hàng rau quả của Việt Nam bởi lợi thế về địa lý, nhiều nét tương đồng trong văn hóa ẩm thực. Thời gian tới, dự kiến sẽ có thêm 4 sản phẩm được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc, bao gồm: Dược liệu, dừa, hoa quả đông lạnh và dưa hấu.

Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam mới chiếm khoảng 2-3% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả thế giới. Điều này đồng nghĩa với dư địa ngành hàng này rất lớn.

Nguyên Hương